an dung cach giup tre het bieng an
Việc cho trẻ ăn đúng cách đang được rất nhiều phụ huynh quan tâm với mong muốn nuôi dưỡng trẻ sao cho mang tính khoa học và hiệu quả nhất, đặc biệt là giảm thiểu tình trạng biếng ăn

Sau đây là những nguyên tắc quan trọng giúp trẻ ăn ngon miệng và đúng cách:

Cho trẻ ăn thức ăn phù hợp theo lứa tuổi: trẻ nhỏ nên cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời để nâng cao sức đề kháng cho cơ thể. Trẻ từ 6 tháng tuổi nên tập cho bé ăn dặm (ăn bổ sung) những loại thực phẩm cần thiết theo khuyến cáo của chuyên gia dinh dưỡng, cụ thể nên cho trẻ ăn đủ 4 nhóm thực phẩm cần thiết gồm:  bột - đường; đạm - thịt, tôm, cua, cá, trứng…; chất béo - dầu, mỡ và thực phẩm cung cấp vitamin và khoáng chất từ nguồn rau xanh và trái cây tươi. Trẻ 8 - 12 tháng tuổi, nên tập cho trẻ ăn những thức ăn đặc hơn như: cháo, bún, phở, hủ tíu hoặc cơm nát… để trẻ phát triển khả năng nhai vì đây là giai đoạn bé đang mọc răng.

Không nên ép trẻ ăn quá nhiều: đây là tâm lý chung của các bậc phụ huynh vì mong muốn con mình tăng cân tốt và muốn con mình “luôn tròn trịa” mới là bé khỏe - bé đẹp. Điều này rất dễ làm cho trẻ sợ ăn uống dẫn đến tình trạng biếng ăn tâm lý rất khó chữa trị. Phụ huynh nên để con trẻ ăn theo khả năng của mình, cho trẻ chọn những thức ăn chúng trẻ thích. Những trẻ khó ăn uống phụ huynh nên “chia nhỏ bữa ăn” giúp trẻ vẫn ăn đủ lượng thức ăn cần thiết mà hệ tiêu hóa của trẻ lại không bị quá tải. Khuyến khích trẻ nên hạn chế ăn những thức ăn chế biến nhanh hoặc chứa nhiều đường ngọt như: khoai tây chiên, gà rán, nước ngọt các loại, bánh kẹo ngọt, sôcôla… Nên chọn và khuyên trẻ ăn thêm những loại thức ăn có lợi cho sức khỏe như: nhiều rau xanh, các loại trái cây tươi và bổ sung đủ nguồn nước cho cơ thể để đảm bảo sức khỏe và dễ tiêu hóa.

Động viên trẻ tăng cường hoạt động thể lực: đây là cách giúp trẻ có một cơ thể dẻo dai và việc ăn uống của trẻ cũng trở nên dễ dàng hơn vì trẻ vận động nhiều sẽ mau đói và có cảm giác ăn uống ngon miệng hơn. Mỗi ngày nên khuyến khích trẻ rèn luyện thể lực khoảng 30 phút bằng những động tác tập luyện phù hợp với lứa tuổi của trẻ như đạp xe đạp, bơi lội, đá bóng trong sân, đi bộ với cha mẹ…

Tạo không khí gia đình trong bữa ăn của trẻ: phụ huynh nên duy trì không khí bữa ăn gia đình cùng với trẻ, điều này giúp trẻ tập dần các kỹ năng ăn uống như tập cho trẻ cầm muỗng đũa, tập cho trẻ biết tự đút ăn, tập cho trẻ kỹ năng giao tiếp trên bàn ăn cùng với người lớn… Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh khi trẻ ăn chung với gia đình trong không khí đầm ấm trẻ thường ăn được nhiều hơn, phát triển các giác quan và trí não một cách hoàn thiện nhất.

Cho trẻ ngồi đúng cách khi ăn: đây là cách giúp cho hệ tiêu hóa của trẻ hoạt động tốt nhất. Phụ huynh nên chọn cho trẻ một ghế ngồi thẳng lưng có phần dựa phía sau, ghế trẻ ngồi phải ngang tầm với vị trí thức ăn để trè có thể ăn uống dễ dàng. Ghế ngồi phù hợp sẽ giúp các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa giãn nở tối đa làm cho thức ăn nhanh chóng được tiêu hóa và hấp thu, giúp trẻ tránh được những phiền toái do đầy hơi, trướng bụng hoặc tình trạng rối loạn tiêu hóa gây ra.
ThS.BS. ĐINH THẠC

Ăn đúng cách giúp trẻ hết biếng ăn

an dung cach giup tre het bieng an
Việc cho trẻ ăn đúng cách đang được rất nhiều phụ huynh quan tâm với mong muốn nuôi dưỡng trẻ sao cho mang tính khoa học và hiệu quả nhất, đặc biệt là giảm thiểu tình trạng biếng ăn

Sau đây là những nguyên tắc quan trọng giúp trẻ ăn ngon miệng và đúng cách:

Cho trẻ ăn thức ăn phù hợp theo lứa tuổi: trẻ nhỏ nên cho bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời để nâng cao sức đề kháng cho cơ thể. Trẻ từ 6 tháng tuổi nên tập cho bé ăn dặm (ăn bổ sung) những loại thực phẩm cần thiết theo khuyến cáo của chuyên gia dinh dưỡng, cụ thể nên cho trẻ ăn đủ 4 nhóm thực phẩm cần thiết gồm:  bột - đường; đạm - thịt, tôm, cua, cá, trứng…; chất béo - dầu, mỡ và thực phẩm cung cấp vitamin và khoáng chất từ nguồn rau xanh và trái cây tươi. Trẻ 8 - 12 tháng tuổi, nên tập cho trẻ ăn những thức ăn đặc hơn như: cháo, bún, phở, hủ tíu hoặc cơm nát… để trẻ phát triển khả năng nhai vì đây là giai đoạn bé đang mọc răng.

Không nên ép trẻ ăn quá nhiều: đây là tâm lý chung của các bậc phụ huynh vì mong muốn con mình tăng cân tốt và muốn con mình “luôn tròn trịa” mới là bé khỏe - bé đẹp. Điều này rất dễ làm cho trẻ sợ ăn uống dẫn đến tình trạng biếng ăn tâm lý rất khó chữa trị. Phụ huynh nên để con trẻ ăn theo khả năng của mình, cho trẻ chọn những thức ăn chúng trẻ thích. Những trẻ khó ăn uống phụ huynh nên “chia nhỏ bữa ăn” giúp trẻ vẫn ăn đủ lượng thức ăn cần thiết mà hệ tiêu hóa của trẻ lại không bị quá tải. Khuyến khích trẻ nên hạn chế ăn những thức ăn chế biến nhanh hoặc chứa nhiều đường ngọt như: khoai tây chiên, gà rán, nước ngọt các loại, bánh kẹo ngọt, sôcôla… Nên chọn và khuyên trẻ ăn thêm những loại thức ăn có lợi cho sức khỏe như: nhiều rau xanh, các loại trái cây tươi và bổ sung đủ nguồn nước cho cơ thể để đảm bảo sức khỏe và dễ tiêu hóa.

Động viên trẻ tăng cường hoạt động thể lực: đây là cách giúp trẻ có một cơ thể dẻo dai và việc ăn uống của trẻ cũng trở nên dễ dàng hơn vì trẻ vận động nhiều sẽ mau đói và có cảm giác ăn uống ngon miệng hơn. Mỗi ngày nên khuyến khích trẻ rèn luyện thể lực khoảng 30 phút bằng những động tác tập luyện phù hợp với lứa tuổi của trẻ như đạp xe đạp, bơi lội, đá bóng trong sân, đi bộ với cha mẹ…

Tạo không khí gia đình trong bữa ăn của trẻ: phụ huynh nên duy trì không khí bữa ăn gia đình cùng với trẻ, điều này giúp trẻ tập dần các kỹ năng ăn uống như tập cho trẻ cầm muỗng đũa, tập cho trẻ biết tự đút ăn, tập cho trẻ kỹ năng giao tiếp trên bàn ăn cùng với người lớn… Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh khi trẻ ăn chung với gia đình trong không khí đầm ấm trẻ thường ăn được nhiều hơn, phát triển các giác quan và trí não một cách hoàn thiện nhất.

Cho trẻ ngồi đúng cách khi ăn: đây là cách giúp cho hệ tiêu hóa của trẻ hoạt động tốt nhất. Phụ huynh nên chọn cho trẻ một ghế ngồi thẳng lưng có phần dựa phía sau, ghế trẻ ngồi phải ngang tầm với vị trí thức ăn để trè có thể ăn uống dễ dàng. Ghế ngồi phù hợp sẽ giúp các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa giãn nở tối đa làm cho thức ăn nhanh chóng được tiêu hóa và hấp thu, giúp trẻ tránh được những phiền toái do đầy hơi, trướng bụng hoặc tình trạng rối loạn tiêu hóa gây ra.
ThS.BS. ĐINH THẠC
Đọc thêm..
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra chứng biếng ăn ở trẻ như lý do tâm lý, bệnh lý, thức ăn không ngon... Tuỳ theo từng nguyên nhân, cha mẹ cần thực hiện những biện pháp khắc phục khác nhau. Sau đây là ý kiến của bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hương (Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM) về vấn đề này.

Một số nguyên nhân gây biếng ăn:

1. Biếng ăn do tâm lý: Đây là nguyên nhân thường gặp nhất. Trẻ biếng ăn khi có cảm giác bị ép buộc, bỏ rơi, bị gò bó hoặc bị đánh lừa. Các tình huống thường gặp trong thực tế:

- Bị ép bú bình trong khi chỉ thích bú mẹ.

- Mẹ đi làm để trẻ cho người khác chăm sóc.

- Bị ép phải mang khăn ăn, phải ngồi một chỗ từ đầu đến cuối bữa ăn.

- Bị quy định phải ăn hết khẩu phần của mình trong một thời gian cố định.

- Không khí bữa ăn căng thẳng.

- Cha mẹ cho thuốc vào thức ăn, vào sữa.

2. Biếng ăn do sai lầm trong chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn.

- Những sai lầm trong chế biến thức ăn cho trẻ:

+ Hầm khoai tây, cà rốt, củ dền, đậu, thịt... xay nhuyễn và cho trẻ ăn hết ngày này qua ngày nọ, gây cảm giác ngán.

+ Chỉ cho trẻ ăn nước rau, nước thịt, không cho ăn xác, lâu ngày dẫn đến tình trạng thiếu các chất dinh dưỡng.

+ Cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn đến lúc 2, 3 tuổi.

+ Pha bột vào sữa, pha sữa quá đặc, pha sữa bằng nước cháo hoặc nước hầm đậu, hầm xương... làm trẻ khó tiêu hóa.

+ Pha bột quá đặc khi trẻ mới tập ăn dặm.

- Thời gian chuyển tiếp chế độ ăn không phù hợp:

+ Ăn dặm quá sớm (trước khi trẻ tròn 4 tháng).

+ Ăn cơm quá sớm (trong khi răng trẻ chưa đủ để nhai cơm).

3. Biếng ăn do bệnh lý:

- Suy dinh dưỡng.

- Nhiễm ký sinh trùng; nhiễm trùng (viêm mũi, viêm họng, viêm amiđan...) và virus.

- Bệnh lý răng miệng (sâu răng, viêm lợi), loạn khuẩn đường ruột.

4. Biếng ăn sinh lý: Trẻ vẫn khỏe mạnh nhưng tự nhiên ăn ít đi trong vài ngày đến vài tuần. Các thời điểm này thường trùng với lúc bé biết lẫy, ngồi, đứng, đi... Sau đó, trẻ trở lại ăn uống bình thường.

5. Biếng ăn do thuốc: Do dùng quá nhiều vitamin, kháng sinh hoặc “thuốc kích thích ăn’’. Việc lạm dụng kháng sinh có thể gây rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột, còn thuốc kích thích ăn sẽ làm cho trẻ biếng ăn thêm ngay sau khi ngừng thuốc (thuốc này chống chỉ định ở trẻ dưới 2 tuổi).

6. Biếng ăn “của cha mẹ”: Do cha mẹ quá lo lắng về sự tăng trưởng của con. Khi thấy con ăn ít hơn các trẻ cùng lứa tuổi, nhiều người nghĩ rằng con biếng ăn mặc dù trẻ vẫn tăng cân và tăng chiều cao tốt.

7. Biếng ăn bẩm sinh: Có khoảng dưới 5% trẻ sinh ra chỉ ngủ, chơi mà không bao giờ đòi bú.

Ngoài ra, trẻ còn có thể bị biếng ăn như sau khi tiêm phòng hoặc sau chấn thương.


Các biện pháp khắc phục

Biếng ăn tâm lý: Cha mẹ cần hết sức bình tĩnh và kiên nhẫn tìm hiểu vì sao bé biếng ăn. Cần tránh các hành vi ép buộc như đè bé ra đổ thức ăn, bóp mũi cho bé nuốt, đánh cho bé khóc để bé nuốt... Khi trẻ ốm, nếu trẻ khó uống thuốc, cha mẹ hãy trình bày với bác sĩ để bác sĩ cho thuốc dễ uống, không cần phải cho thuốc vào thức ăn để đánh lừa trẻ. Hãy cho trẻ ăn một cách thoải mái, bột, sữa có thể dây vào áo một chút cũng không sao.

Biếng ăn do sai lầm trong kỹ thuật chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn: Tránh kéo dài thời gian cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn. Không cho bé ăn thức ăn đơn điệu, nên đổi món thường xuyên cho bé.

3. Biếng ăn do bệnh lý: Bổ sung các vi chất dinh dưỡng mà trẻ thiếu; xổ giun cho trẻ 6 tháng một lần; giữ gìn vệ sinh răng miệng; điều trị bệnh nhiễm trùng.

4. Biếng ăn sinh lý: Trong giai đoạn biếng ăn sinh lý, các bậc cha mẹ không nên nóng lòng tự ý sử dụng các loại thuốc bổ hoặc thúc ép trẻ ăn. Hãy kiên nhẫn cho trẻ ăn từng bữa nhỏ, thay đổi các món ăn lạ... để chờ trẻ ăn trở lại.

5. Biếng ăn do thuốc: Sử dụng các men vi sinh hoặc sữa chua để cấy lại vi khuẩn đường ruột cho trẻ; tránh sử dụng thuốc bổ khi không có đơn của bác sĩ; tránh sử dụng thuốc kích thích ăn.

6. Biếng ăn bẩm sinh: Đối với các trẻ không đòi ăn bao giờ, cha mẹ phải chủ động cho trẻ ăn theo sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ dinh dưỡng.

Biếng ăn ở trẻ: Nguyên nhân và cách khắc phục

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra chứng biếng ăn ở trẻ như lý do tâm lý, bệnh lý, thức ăn không ngon... Tuỳ theo từng nguyên nhân, cha mẹ cần thực hiện những biện pháp khắc phục khác nhau. Sau đây là ý kiến của bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hương (Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM) về vấn đề này.

Một số nguyên nhân gây biếng ăn:

1. Biếng ăn do tâm lý: Đây là nguyên nhân thường gặp nhất. Trẻ biếng ăn khi có cảm giác bị ép buộc, bỏ rơi, bị gò bó hoặc bị đánh lừa. Các tình huống thường gặp trong thực tế:

- Bị ép bú bình trong khi chỉ thích bú mẹ.

- Mẹ đi làm để trẻ cho người khác chăm sóc.

- Bị ép phải mang khăn ăn, phải ngồi một chỗ từ đầu đến cuối bữa ăn.

- Bị quy định phải ăn hết khẩu phần của mình trong một thời gian cố định.

- Không khí bữa ăn căng thẳng.

- Cha mẹ cho thuốc vào thức ăn, vào sữa.

2. Biếng ăn do sai lầm trong chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn.

- Những sai lầm trong chế biến thức ăn cho trẻ:

+ Hầm khoai tây, cà rốt, củ dền, đậu, thịt... xay nhuyễn và cho trẻ ăn hết ngày này qua ngày nọ, gây cảm giác ngán.

+ Chỉ cho trẻ ăn nước rau, nước thịt, không cho ăn xác, lâu ngày dẫn đến tình trạng thiếu các chất dinh dưỡng.

+ Cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn đến lúc 2, 3 tuổi.

+ Pha bột vào sữa, pha sữa quá đặc, pha sữa bằng nước cháo hoặc nước hầm đậu, hầm xương... làm trẻ khó tiêu hóa.

+ Pha bột quá đặc khi trẻ mới tập ăn dặm.

- Thời gian chuyển tiếp chế độ ăn không phù hợp:

+ Ăn dặm quá sớm (trước khi trẻ tròn 4 tháng).

+ Ăn cơm quá sớm (trong khi răng trẻ chưa đủ để nhai cơm).

3. Biếng ăn do bệnh lý:

- Suy dinh dưỡng.

- Nhiễm ký sinh trùng; nhiễm trùng (viêm mũi, viêm họng, viêm amiđan...) và virus.

- Bệnh lý răng miệng (sâu răng, viêm lợi), loạn khuẩn đường ruột.

4. Biếng ăn sinh lý: Trẻ vẫn khỏe mạnh nhưng tự nhiên ăn ít đi trong vài ngày đến vài tuần. Các thời điểm này thường trùng với lúc bé biết lẫy, ngồi, đứng, đi... Sau đó, trẻ trở lại ăn uống bình thường.

5. Biếng ăn do thuốc: Do dùng quá nhiều vitamin, kháng sinh hoặc “thuốc kích thích ăn’’. Việc lạm dụng kháng sinh có thể gây rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột, còn thuốc kích thích ăn sẽ làm cho trẻ biếng ăn thêm ngay sau khi ngừng thuốc (thuốc này chống chỉ định ở trẻ dưới 2 tuổi).

6. Biếng ăn “của cha mẹ”: Do cha mẹ quá lo lắng về sự tăng trưởng của con. Khi thấy con ăn ít hơn các trẻ cùng lứa tuổi, nhiều người nghĩ rằng con biếng ăn mặc dù trẻ vẫn tăng cân và tăng chiều cao tốt.

7. Biếng ăn bẩm sinh: Có khoảng dưới 5% trẻ sinh ra chỉ ngủ, chơi mà không bao giờ đòi bú.

Ngoài ra, trẻ còn có thể bị biếng ăn như sau khi tiêm phòng hoặc sau chấn thương.


Các biện pháp khắc phục

Biếng ăn tâm lý: Cha mẹ cần hết sức bình tĩnh và kiên nhẫn tìm hiểu vì sao bé biếng ăn. Cần tránh các hành vi ép buộc như đè bé ra đổ thức ăn, bóp mũi cho bé nuốt, đánh cho bé khóc để bé nuốt... Khi trẻ ốm, nếu trẻ khó uống thuốc, cha mẹ hãy trình bày với bác sĩ để bác sĩ cho thuốc dễ uống, không cần phải cho thuốc vào thức ăn để đánh lừa trẻ. Hãy cho trẻ ăn một cách thoải mái, bột, sữa có thể dây vào áo một chút cũng không sao.

Biếng ăn do sai lầm trong kỹ thuật chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn: Tránh kéo dài thời gian cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn. Không cho bé ăn thức ăn đơn điệu, nên đổi món thường xuyên cho bé.

3. Biếng ăn do bệnh lý: Bổ sung các vi chất dinh dưỡng mà trẻ thiếu; xổ giun cho trẻ 6 tháng một lần; giữ gìn vệ sinh răng miệng; điều trị bệnh nhiễm trùng.

4. Biếng ăn sinh lý: Trong giai đoạn biếng ăn sinh lý, các bậc cha mẹ không nên nóng lòng tự ý sử dụng các loại thuốc bổ hoặc thúc ép trẻ ăn. Hãy kiên nhẫn cho trẻ ăn từng bữa nhỏ, thay đổi các món ăn lạ... để chờ trẻ ăn trở lại.

5. Biếng ăn do thuốc: Sử dụng các men vi sinh hoặc sữa chua để cấy lại vi khuẩn đường ruột cho trẻ; tránh sử dụng thuốc bổ khi không có đơn của bác sĩ; tránh sử dụng thuốc kích thích ăn.

6. Biếng ăn bẩm sinh: Đối với các trẻ không đòi ăn bao giờ, cha mẹ phải chủ động cho trẻ ăn theo sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ dinh dưỡng.
Đọc thêm..
Bạn cần hạn chế tối đa một số loại thực phẩm sau vì chúng có thể 'phá hỏng' quá trình tăng trưởng chiều cao của con mình.


Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 60% các trường hợp thiếu canxi ở bé đều xuất hành từ nếp uống các loại đồ uống có ga. Các loại đồ uống có ga thường chứa nhiều axit phosphoric. Quá nhiều hàm lượng axit này có thể dẫn tới việc làm tăng đào thải canxi qua nước tiểu, bé sẽ chậm phát triển cả về chiều cao và thể lực.




Đồ ăn chứa nhiều đường


Ăn quá nhiều đồ ăn vặt chứa nhiều đường như: bánh kẹo, đồ uống ngọt… không chỉ kích thích quá trình chuyển hóa đường thành mỡ gây bệnh béo phì, mà còn làm giảm khả năng thu nạp canxi và các vitamin, khoáng chất khác của cơ thể bé.

Nếu lượng đường chiếm 16-18% trong tổng hàm lượng thức ăn của bé thì bé sẽ liền tù tù phải đối mặt với các vấn đề về đường tiêu hóa.


Đồ ăn chứa nhiều dầu mỡ


Các thực phẩm đóng hộp hoặc được chiên qua nhiều dầu mỡ thường mất đi khá nhiều chất dinh dưỡng trong quá trình chế biến, trong đó có cả vitamin D và các chất xơ. Các đồ ăn chứa nhiều dầu mỡ lại cung cấp cho bé quá nhiều calo, dễ dẫn đến bệnh béo phì và hạn chế sự phát triển của các tế bào thần kinh.

Mọi thông tin về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể vui lòng gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Thực phẩm cản trở chiều cao của bé

Bạn cần hạn chế tối đa một số loại thực phẩm sau vì chúng có thể 'phá hỏng' quá trình tăng trưởng chiều cao của con mình.


Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 60% các trường hợp thiếu canxi ở bé đều xuất hành từ nếp uống các loại đồ uống có ga. Các loại đồ uống có ga thường chứa nhiều axit phosphoric. Quá nhiều hàm lượng axit này có thể dẫn tới việc làm tăng đào thải canxi qua nước tiểu, bé sẽ chậm phát triển cả về chiều cao và thể lực.




Đồ ăn chứa nhiều đường


Ăn quá nhiều đồ ăn vặt chứa nhiều đường như: bánh kẹo, đồ uống ngọt… không chỉ kích thích quá trình chuyển hóa đường thành mỡ gây bệnh béo phì, mà còn làm giảm khả năng thu nạp canxi và các vitamin, khoáng chất khác của cơ thể bé.

Nếu lượng đường chiếm 16-18% trong tổng hàm lượng thức ăn của bé thì bé sẽ liền tù tù phải đối mặt với các vấn đề về đường tiêu hóa.


Đồ ăn chứa nhiều dầu mỡ


Các thực phẩm đóng hộp hoặc được chiên qua nhiều dầu mỡ thường mất đi khá nhiều chất dinh dưỡng trong quá trình chế biến, trong đó có cả vitamin D và các chất xơ. Các đồ ăn chứa nhiều dầu mỡ lại cung cấp cho bé quá nhiều calo, dễ dẫn đến bệnh béo phì và hạn chế sự phát triển của các tế bào thần kinh.

Mọi thông tin về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể vui lòng gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.
Đọc thêm..
1. Từ hơn ba thập kỷ nay, y khoa khuyến khích các bà mẹ cho trẻ, từ lúc mới chào đời, bú theo nhu cầu.Tức là không theo giờ nhất định và không theo liều lượng nhất định. Có những trẻ bú nhiều, nhiều lần trong ngày và cả trong đêm. Trái lại, có những trẻ nhu cầu ít hơn. Miễn là các cháu vui sống và lên cân đều đặn.

Lên cân đều đặn, điều này phải thận trong nữa, vì có những trẻ phát triển theo percentile 90 thậm chí 97 - tức là  thuộc 10% hay 3% những bé to mập nhất - Còn có những trẻ khác thì thuộc percentile  10 hay  3 - thuộc lớp các bé sau này vóc nhỏ hơn và gầy hơn.  Những percentile này lúc chào đời các bác sĩ đã có thể cân đo được rồi, hay chậm nhất là sau một tháng tuổi của các bé. Phần này là do di truyền và do an bài trong thai kỳ.

Tóm lại có bé ăn nhiều vì cơ thể cần nhiều năng lượng để lớn lên. Có bé chỉ ăn ít thôi vì nhu cầu ít hơn.

Đó là chưa nói tới sinh hoạt của các bé. Cháu nào hiếu động thì xài nhiều ca lo ri hơn và ăn mạnh hơn.

2. Cho các cháu ăn và bú theo thời dụng biểu của các cháu. Vấn đề thời dụng biểu là do xã hội đặt ra vì xã hội phải tổ chức đồng loạt các sinh hoạt. Nhưng mỗi một trong chúng ta có một đồng hồ sinh học riêng. Cụ thể có cháu ngủ nhiều trong trường hợp này thì cháu này sẽ ăn ít vì khi ngủ không cần nhiều năng lượng. Có cháu đói lúc sáng vì cháu thuộc hạng người thiên về buổi sáng. Cháu khác thì ăn nhiều vào buổi tối... Hai buổi như thế sẽ bù trừ với nhau thành ra khẩu phần trọn ngày sẽ đầy đủ.

Dĩ nhiên, các cháu từ từ sẽ thích ứng với môi trường xã hội nhưng xin cho thời gian để các cháu thích ứng. Có khi chỉ cần sáu tháng. Có khi phải ba năm.

Ngay tới người đã trưởng thành, có người làm việc tốt hơn buổi sáng. Cũng có người chỉ tỉnh táo buổi tối.

3. Các bà mẹ hay các cô bảo mẫu có một đồng minh rất lớn trong việc nuôi ăn các cháu : cái đói. Thông thường, không bé nào tự để cho mình chết đói. Các cháu chưa biết ... tuyệt thực. Ăn là một phản xạ cho sinh tồn. Sau đó ăn là một hạnh phúc nữa.

Chúng ta có thể quan sát một cháu bé bú mẹ chẳng hạn, tay bé nắm một ngón tay của mẹ, miệng không rời bầu vú nuôi, trong cái ấm áp gần gũi với thân thể mẹ. Hạnh phúc của bé được hiện rõ trên mặt bé!

4. Dĩ nhiên, muốn cho các cháu ăn giỏi và ăn nhanh thì thức ăn phải hấp dẫn các cháu. Màu mè, ngon miệng và mới lạ. Thí dụ điển hình nhất là các thức cơm hộp mà các bè mẹ Nhật Bản sửa soạn cho các con mang theo để ăn trưa ở trường. Cơm trắng thật đấy nhưng thịt hay rau thì được cắt và xếp hình như mặt chú hề hay hình cây thông, ..

Ăn cũng là một sinh hoạt tập thể, ở nhà thì ăn với cha mẹ ông bà, ở trường thì ăn với bè bạn. Nếu cần thì có thể hát trước khi vào bàn. Tức là bữa cơm thành một bữa vui.

5. Nhưng nếu có cháu vẫn từ chối không ăn thì ... phản xạ đầu tiên của người nuôi dạy trẻ - dù là cha mẹ hay bảo mẫu - là phải xem cháu có bệnh hay không. Có thể vì cháu sổ mũi, đau họng hay đau bụng, ... nên ăn sẽ là một cực hình.  Bắt ép các cháu ăn lúc này có thể để lại ấn tượng xấu cho các cháu: các cháu có thể ghép chuyện ăn uống với đau đớn và từ đó từ chối ăn để tự bảo vệ.

Vừa ăn vừa bị đánh, vừa ăn vừa nuốt nước mắt làm cho các cháu từ chối ăn một cách mãn tính là chuyện hầu như dĩ nhiên. Cái vòng lẩn quẩn bắt đầu từ đó và càng ngày bạo lực càng tăng. Các cháu từ chối không ăn, không lớn được, bị đòn thêm - vì không trả lời được chờ đợi của mẹ hay bảo mẫu - các cháu lại càng từ chối ăn...

6. Đôi khi, trẻ từ chối ăn vì đó là cách duy nhất mà cháu có trong tay để “nói” với mẹ hay người chung quanh rằng “hãy chú ý đến con, con có vấn đề”. Tinh ý, mẹ cháu giải quyết được vấn đề cho cháu thì sau đó, mọi việc sẽ ổn thoả.

Bác sĩ kể chuyện chẳng hạn khi mẹ của một bé sinh hạ đứa con thứ nhì, cháu đầu, lúc đó gần ba tuổi,  vô cớ, bỏ ăn bỏ chơi ... Khi cha mẹ giải thích cho cháu và cho cháu đủ niềm tin là cháu sẽ không bị bỏ rơi, cháu lại vui sống như trước.

7. Nếu trẻ vẫn kén ăn thì trước khi dùng biện pháp mạnh - đi khám bác sĩ - thì hãy cố gắng cho bé ăn những thức ăn giàu giá trị dinh dưỡng và giàu năng lượng trong một thể tích nhỏ nhất – để dù cháu ăn ít vẫn đủ chất (cá thì chọn cá béo – cá hồi chẳng hạn, trái cây thì chọn trái có nhiều đường và sinh tố chứ không đầy nước, chuối và chanh leo là điển hình, thay nước bằng sữa, ...).

8. Nhiều bác sĩ nhi đồng đi xa hơn: khi con không ăn, phải chữa trị bà mẹ hay người nuôi cháu. Ở đây ta sẽ không nói “con hư tại mẹ” mà “con không ăn là tại mẹ” : mẹ quá lo lắng, mẹ không hiểu nhu cầu của con, mẹ quá cứng nhắc theo chuẩn, mẹ lãnh cảm, mẹ cho các món ăn không hợp khẩu vị của con, ...

Vì sao bé lười ăn mãn tính

1. Từ hơn ba thập kỷ nay, y khoa khuyến khích các bà mẹ cho trẻ, từ lúc mới chào đời, bú theo nhu cầu.Tức là không theo giờ nhất định và không theo liều lượng nhất định. Có những trẻ bú nhiều, nhiều lần trong ngày và cả trong đêm. Trái lại, có những trẻ nhu cầu ít hơn. Miễn là các cháu vui sống và lên cân đều đặn.

Lên cân đều đặn, điều này phải thận trong nữa, vì có những trẻ phát triển theo percentile 90 thậm chí 97 - tức là  thuộc 10% hay 3% những bé to mập nhất - Còn có những trẻ khác thì thuộc percentile  10 hay  3 - thuộc lớp các bé sau này vóc nhỏ hơn và gầy hơn.  Những percentile này lúc chào đời các bác sĩ đã có thể cân đo được rồi, hay chậm nhất là sau một tháng tuổi của các bé. Phần này là do di truyền và do an bài trong thai kỳ.

Tóm lại có bé ăn nhiều vì cơ thể cần nhiều năng lượng để lớn lên. Có bé chỉ ăn ít thôi vì nhu cầu ít hơn.

Đó là chưa nói tới sinh hoạt của các bé. Cháu nào hiếu động thì xài nhiều ca lo ri hơn và ăn mạnh hơn.

2. Cho các cháu ăn và bú theo thời dụng biểu của các cháu. Vấn đề thời dụng biểu là do xã hội đặt ra vì xã hội phải tổ chức đồng loạt các sinh hoạt. Nhưng mỗi một trong chúng ta có một đồng hồ sinh học riêng. Cụ thể có cháu ngủ nhiều trong trường hợp này thì cháu này sẽ ăn ít vì khi ngủ không cần nhiều năng lượng. Có cháu đói lúc sáng vì cháu thuộc hạng người thiên về buổi sáng. Cháu khác thì ăn nhiều vào buổi tối... Hai buổi như thế sẽ bù trừ với nhau thành ra khẩu phần trọn ngày sẽ đầy đủ.

Dĩ nhiên, các cháu từ từ sẽ thích ứng với môi trường xã hội nhưng xin cho thời gian để các cháu thích ứng. Có khi chỉ cần sáu tháng. Có khi phải ba năm.

Ngay tới người đã trưởng thành, có người làm việc tốt hơn buổi sáng. Cũng có người chỉ tỉnh táo buổi tối.

3. Các bà mẹ hay các cô bảo mẫu có một đồng minh rất lớn trong việc nuôi ăn các cháu : cái đói. Thông thường, không bé nào tự để cho mình chết đói. Các cháu chưa biết ... tuyệt thực. Ăn là một phản xạ cho sinh tồn. Sau đó ăn là một hạnh phúc nữa.

Chúng ta có thể quan sát một cháu bé bú mẹ chẳng hạn, tay bé nắm một ngón tay của mẹ, miệng không rời bầu vú nuôi, trong cái ấm áp gần gũi với thân thể mẹ. Hạnh phúc của bé được hiện rõ trên mặt bé!

4. Dĩ nhiên, muốn cho các cháu ăn giỏi và ăn nhanh thì thức ăn phải hấp dẫn các cháu. Màu mè, ngon miệng và mới lạ. Thí dụ điển hình nhất là các thức cơm hộp mà các bè mẹ Nhật Bản sửa soạn cho các con mang theo để ăn trưa ở trường. Cơm trắng thật đấy nhưng thịt hay rau thì được cắt và xếp hình như mặt chú hề hay hình cây thông, ..

Ăn cũng là một sinh hoạt tập thể, ở nhà thì ăn với cha mẹ ông bà, ở trường thì ăn với bè bạn. Nếu cần thì có thể hát trước khi vào bàn. Tức là bữa cơm thành một bữa vui.

5. Nhưng nếu có cháu vẫn từ chối không ăn thì ... phản xạ đầu tiên của người nuôi dạy trẻ - dù là cha mẹ hay bảo mẫu - là phải xem cháu có bệnh hay không. Có thể vì cháu sổ mũi, đau họng hay đau bụng, ... nên ăn sẽ là một cực hình.  Bắt ép các cháu ăn lúc này có thể để lại ấn tượng xấu cho các cháu: các cháu có thể ghép chuyện ăn uống với đau đớn và từ đó từ chối ăn để tự bảo vệ.

Vừa ăn vừa bị đánh, vừa ăn vừa nuốt nước mắt làm cho các cháu từ chối ăn một cách mãn tính là chuyện hầu như dĩ nhiên. Cái vòng lẩn quẩn bắt đầu từ đó và càng ngày bạo lực càng tăng. Các cháu từ chối không ăn, không lớn được, bị đòn thêm - vì không trả lời được chờ đợi của mẹ hay bảo mẫu - các cháu lại càng từ chối ăn...

6. Đôi khi, trẻ từ chối ăn vì đó là cách duy nhất mà cháu có trong tay để “nói” với mẹ hay người chung quanh rằng “hãy chú ý đến con, con có vấn đề”. Tinh ý, mẹ cháu giải quyết được vấn đề cho cháu thì sau đó, mọi việc sẽ ổn thoả.

Bác sĩ kể chuyện chẳng hạn khi mẹ của một bé sinh hạ đứa con thứ nhì, cháu đầu, lúc đó gần ba tuổi,  vô cớ, bỏ ăn bỏ chơi ... Khi cha mẹ giải thích cho cháu và cho cháu đủ niềm tin là cháu sẽ không bị bỏ rơi, cháu lại vui sống như trước.

7. Nếu trẻ vẫn kén ăn thì trước khi dùng biện pháp mạnh - đi khám bác sĩ - thì hãy cố gắng cho bé ăn những thức ăn giàu giá trị dinh dưỡng và giàu năng lượng trong một thể tích nhỏ nhất – để dù cháu ăn ít vẫn đủ chất (cá thì chọn cá béo – cá hồi chẳng hạn, trái cây thì chọn trái có nhiều đường và sinh tố chứ không đầy nước, chuối và chanh leo là điển hình, thay nước bằng sữa, ...).

8. Nhiều bác sĩ nhi đồng đi xa hơn: khi con không ăn, phải chữa trị bà mẹ hay người nuôi cháu. Ở đây ta sẽ không nói “con hư tại mẹ” mà “con không ăn là tại mẹ” : mẹ quá lo lắng, mẹ không hiểu nhu cầu của con, mẹ quá cứng nhắc theo chuẩn, mẹ lãnh cảm, mẹ cho các món ăn không hợp khẩu vị của con, ...
Đọc thêm..
Xin bác sỹ tư vấn giúp em! Con em hiện tại vừa tròn 8 tháng tuổi nặng 10kg, cao 72cm. Em đã cho bé ăn dặm như sau:
7h: uống khoảng 70ml sữa (dù mẹ pha đủ 90ml)
9h30: ăn bột mặn - uống nước hoa quả
11h: bé bú mẹ (nhưng sữa em không còn nhiều như trước nên bé bú ít lắm theo em cảm nhận)
Bé ngủ trưa đến tận 3h15
3h15: ăn bột mặn - uống nước hoa quả
17h: bé bú mẹ
9h: bé bú bình (90ml)
Thời gian bé ăn như vậy đã đủ chưa! Nhìn bé không tăng cân trong 1 tháng rồi! Vậy bác sỹ tư vấn giúp em cách cho bé ăn dặm đúng và đủ! Em xin chân thành cảm ơn!

(Trang Tran doan trangttd@...)

Trả lời:

Bạn Đoan Trang thân mến!
Chúng tôi hiểu sự lo lắng của bạn, tuy nhiên dù một tháng qua bé không tăng cân nhưng hiện tại chiều cao, cân nặng của bé đang ở trong giới hạn bình thường (cân nặng nhiều hơn so với chiều cao).

Bạn có thể tham khảo và từ từ điều chỉnh cho bé theo khẩu phần khuyến cáo ở lứa tuổi này: Trong ngày (24 giờ) bé cần khoảng 500ml sữa (Bao gồm sữa mẹ, sữa công thức phù hợp với lứa tuổi và các sản phẩm từ sữa) và 3 bữa bột đủ 4 nhóm thực phẩm {Tổng gồm: gạo tẻ trắng: 50 -60g, thịt (tôm, cá…): 50-60g, dầu (mỡ): 15g, rau xanh, quả chín}.

Bằng cách vắt sữa tương đương một cữ bú của bé bạn có thể ước tính lượng sữa mẹ trong 24 giờ (Lưu ý bé bú trực tiếp luôn nhiều hơn). Nếu bé tiếp tục không tăng cân trong 2 tháng tới (3 tháng liên tục không tăng cân), hoặc bé có biểu hiện bất thường khác bạn có thể đưa bé tới gặp bác sĩ.

Chúc bạn và bé luôn khỏe mạnh, hạnh phúc!

Cách cho con ăn dặm đúng và đủ

Xin bác sỹ tư vấn giúp em! Con em hiện tại vừa tròn 8 tháng tuổi nặng 10kg, cao 72cm. Em đã cho bé ăn dặm như sau:
7h: uống khoảng 70ml sữa (dù mẹ pha đủ 90ml)
9h30: ăn bột mặn - uống nước hoa quả
11h: bé bú mẹ (nhưng sữa em không còn nhiều như trước nên bé bú ít lắm theo em cảm nhận)
Bé ngủ trưa đến tận 3h15
3h15: ăn bột mặn - uống nước hoa quả
17h: bé bú mẹ
9h: bé bú bình (90ml)
Thời gian bé ăn như vậy đã đủ chưa! Nhìn bé không tăng cân trong 1 tháng rồi! Vậy bác sỹ tư vấn giúp em cách cho bé ăn dặm đúng và đủ! Em xin chân thành cảm ơn!

(Trang Tran doan trangttd@...)

Trả lời:

Bạn Đoan Trang thân mến!
Chúng tôi hiểu sự lo lắng của bạn, tuy nhiên dù một tháng qua bé không tăng cân nhưng hiện tại chiều cao, cân nặng của bé đang ở trong giới hạn bình thường (cân nặng nhiều hơn so với chiều cao).

Bạn có thể tham khảo và từ từ điều chỉnh cho bé theo khẩu phần khuyến cáo ở lứa tuổi này: Trong ngày (24 giờ) bé cần khoảng 500ml sữa (Bao gồm sữa mẹ, sữa công thức phù hợp với lứa tuổi và các sản phẩm từ sữa) và 3 bữa bột đủ 4 nhóm thực phẩm {Tổng gồm: gạo tẻ trắng: 50 -60g, thịt (tôm, cá…): 50-60g, dầu (mỡ): 15g, rau xanh, quả chín}.

Bằng cách vắt sữa tương đương một cữ bú của bé bạn có thể ước tính lượng sữa mẹ trong 24 giờ (Lưu ý bé bú trực tiếp luôn nhiều hơn). Nếu bé tiếp tục không tăng cân trong 2 tháng tới (3 tháng liên tục không tăng cân), hoặc bé có biểu hiện bất thường khác bạn có thể đưa bé tới gặp bác sĩ.

Chúc bạn và bé luôn khỏe mạnh, hạnh phúc!
Đọc thêm..
loi me hay gap phai khi cho be an rau
Rau là một trong những nguồn cung cấp vitamin và muối khoáng cho cơ thể giúp trẻ hấp thu chất dinh dưỡng, tăng cường hệ miễn dịch. Những tưởng, cho trẻ ăn rau là việc làm đơn giản nhưng hóa ra lại khá phức tạp.

Dưới đây là một số lỗi trước, trong và sau khi chế biến món rau cho trẻ mà các mẹ cần đặc biệt lưu ý:

1. Cắt trước rửa sau
Lo sợ hóa chất có trong rau không được loại bỏ hết, nhiều mẹ cẩn thận cắt thật nhỏ rau rồi mới rửa. Sự thật, đây là cách làm hoàn toàn sai lầm vì như thế mẹ đã vô tình rửa trôi rất nhiều chất dinh dưỡng có trong rau. Tốt nhất, mẹ nhớ rửa rau sạch rồi mới cắt nhỏ ra chế biến cho bé nhé!

2. Rửa rau không kỹ

Nhiều mẹ tin rằng khi mua rau quả ở cửa hàng rau sạch hay siêu thị thì chất lượng được đảm bảo tuyệt đối nên yên tẩm rửa rau chỉ với một, hai lượt nước là đem nấu cho bé ăn. Nhưng thực tế, rau trong siêu thị bẩn hơn nhiều những gì mắt thường có thể nhìn thất, do đó, đừng để vẻ ngoài tươi ngon, xanh mát đánh lừa chị em.

Rửa rau cho bữa ăn người lớn cần sạch 1, thì cho trẻ con cần sạch 10. Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, rau sau khi mua về cần được ngâm trong nước khoảng 20 phút để chất bẩn, đặc biệt là thuốc trừ sâu trôi ra. Sau khi ngâm, bạn rửa rau lại từ 2 - 3 lần bằng nước sạch, và sau cùng, ngâm bằng nước pha chút muối. để ráo và chế biến.

3. Thời gian sơ chế rau cách thời gian nấu quá dài

Khá nhiều chị em có thói quen mua rau thật nhiều về dự trữ. Rảnh rỗi thì đem nhặt và rửa sạch, sau đó bỏ rau vào tủ lạnh và một thời gian dài sau mới lấy ra nấu. Cách làm này sẽ khiến rau không còn được tươi ngon và mất phần nào chất dinh dưỡng.

4. Nấu rau trong nồi đồng

Các chuyên gia sức khỏe trẻ em khuyên rằng bạn nên sử dụng dụng cụ bằng nhôm hoặc bằng sắt để nấu đồ ăn cho trẻ, tránh dùng nồi đồng. Đặc biệt, nhiều bà mẹ khi luộc rau cho con, vì muốn rau mềm hơn nên sau khi rau sôi đã không vớt ra, thay vào đó họ để rau trong nồi và đậy vung một lúc cho rau mềm.

Đây là một phương pháp làm mềm rau phản khoa học, bởi lẽ khi làm như vậy, không những sẽ làm mất đi chất dinh dưỡng của rau mà còn khiến cho rau bị thôi nhiễm đồng.

Chúng ta biết rằng, trong các món ăn cũng như rau đều có chứa một lượng axit nhất định. Lượng axit này sau khi ngâm trong nồi sẽ làm thôi ra một lượng kim loại hoặc làm oxy hóa lớp bề mặt vật đựng bằng kim loại.

Mặc dù nồng độ cũng như hàm lượng kim loại bị thôi nhiễm không nhiều, tuy nhiên điều này cũng hoàn toàn không có lợi cho sức khỏe của bé.

5. Tất cả các loại rau đều dùng nấu súp

Nấu soup cũng là cách giúp trẻ cảm thấy hứng thú hơn với việc ăn rau. Tuy nhiên, có một lưu ý nhỏ nhắc nhở các mẹ, đó là không phải loại rau nào bạn cũng có thể dùng để nấu soup cho trẻ ăn bởi một số loại rau có chứa hàm lượng acid oxalic như cải bó xôi, hành tây… có thể gây ảnh hưởng tới sự hấp thụ canxi của trẻ.

Lỗi mẹ hay gặp phải khi cho bé ăn rau

loi me hay gap phai khi cho be an rau
Rau là một trong những nguồn cung cấp vitamin và muối khoáng cho cơ thể giúp trẻ hấp thu chất dinh dưỡng, tăng cường hệ miễn dịch. Những tưởng, cho trẻ ăn rau là việc làm đơn giản nhưng hóa ra lại khá phức tạp.

Dưới đây là một số lỗi trước, trong và sau khi chế biến món rau cho trẻ mà các mẹ cần đặc biệt lưu ý:

1. Cắt trước rửa sau
Lo sợ hóa chất có trong rau không được loại bỏ hết, nhiều mẹ cẩn thận cắt thật nhỏ rau rồi mới rửa. Sự thật, đây là cách làm hoàn toàn sai lầm vì như thế mẹ đã vô tình rửa trôi rất nhiều chất dinh dưỡng có trong rau. Tốt nhất, mẹ nhớ rửa rau sạch rồi mới cắt nhỏ ra chế biến cho bé nhé!

2. Rửa rau không kỹ

Nhiều mẹ tin rằng khi mua rau quả ở cửa hàng rau sạch hay siêu thị thì chất lượng được đảm bảo tuyệt đối nên yên tẩm rửa rau chỉ với một, hai lượt nước là đem nấu cho bé ăn. Nhưng thực tế, rau trong siêu thị bẩn hơn nhiều những gì mắt thường có thể nhìn thất, do đó, đừng để vẻ ngoài tươi ngon, xanh mát đánh lừa chị em.

Rửa rau cho bữa ăn người lớn cần sạch 1, thì cho trẻ con cần sạch 10. Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, rau sau khi mua về cần được ngâm trong nước khoảng 20 phút để chất bẩn, đặc biệt là thuốc trừ sâu trôi ra. Sau khi ngâm, bạn rửa rau lại từ 2 - 3 lần bằng nước sạch, và sau cùng, ngâm bằng nước pha chút muối. để ráo và chế biến.

3. Thời gian sơ chế rau cách thời gian nấu quá dài

Khá nhiều chị em có thói quen mua rau thật nhiều về dự trữ. Rảnh rỗi thì đem nhặt và rửa sạch, sau đó bỏ rau vào tủ lạnh và một thời gian dài sau mới lấy ra nấu. Cách làm này sẽ khiến rau không còn được tươi ngon và mất phần nào chất dinh dưỡng.

4. Nấu rau trong nồi đồng

Các chuyên gia sức khỏe trẻ em khuyên rằng bạn nên sử dụng dụng cụ bằng nhôm hoặc bằng sắt để nấu đồ ăn cho trẻ, tránh dùng nồi đồng. Đặc biệt, nhiều bà mẹ khi luộc rau cho con, vì muốn rau mềm hơn nên sau khi rau sôi đã không vớt ra, thay vào đó họ để rau trong nồi và đậy vung một lúc cho rau mềm.

Đây là một phương pháp làm mềm rau phản khoa học, bởi lẽ khi làm như vậy, không những sẽ làm mất đi chất dinh dưỡng của rau mà còn khiến cho rau bị thôi nhiễm đồng.

Chúng ta biết rằng, trong các món ăn cũng như rau đều có chứa một lượng axit nhất định. Lượng axit này sau khi ngâm trong nồi sẽ làm thôi ra một lượng kim loại hoặc làm oxy hóa lớp bề mặt vật đựng bằng kim loại.

Mặc dù nồng độ cũng như hàm lượng kim loại bị thôi nhiễm không nhiều, tuy nhiên điều này cũng hoàn toàn không có lợi cho sức khỏe của bé.

5. Tất cả các loại rau đều dùng nấu súp

Nấu soup cũng là cách giúp trẻ cảm thấy hứng thú hơn với việc ăn rau. Tuy nhiên, có một lưu ý nhỏ nhắc nhở các mẹ, đó là không phải loại rau nào bạn cũng có thể dùng để nấu soup cho trẻ ăn bởi một số loại rau có chứa hàm lượng acid oxalic như cải bó xôi, hành tây… có thể gây ảnh hưởng tới sự hấp thụ canxi của trẻ.
Đọc thêm..
chuoi nghien cho be bieng an
Chuối là một loại trái cây giàu vitamin và khoáng chất, là một nguồn năng lượng tự nhiên rất tốt cho cơ thể cần nhiều sự vận động. Khi làm nhuyễn nó có dạng mềm mượt như kem, rất dễ kết hợp cùng các loại trái cây khác và nếu pha trộn với sữa chua, sẽ cho bé một hương vị tuyệt vời. Các bước hướng dẫn sau sẽ giúp bạn dễ dàng chế biến bữa ăn đầu tiên lý tưởng cho bé từ quả chuối.


Bước 1: Chọn chuối

Cũng nhhư bơ, chuối có một kết cấu mềm mượt, trơn tru vì thế trẻ sơ sinh rất dễ ngậm và nuốt. Nó cũng là một trái cây lý tưởng đầu tiên sau khi em bé đã thử qua một vài loại rau củ nghiền nhuyễn hoặc bột ngũ cốc. Ở Mỹ và nhiều nước khác, chuối được xem lại một loại trái cây giàu dưỡng chất, rất được ưa chuộng trong thực đơn ăn uống hàng ngày. Ở nước ta, chuối được trồng tự nhiên phổ biến trên cả nước, giá thành rẻ so với nhiều loại trái cây khác. Và cũng có nhiều loại chuối khác nhau như chuối sim đen, chuối sứ (chuối mốc), chuối cau, chuối già, chuối già Đà Lạt… Gần đây còn có một số loại chuối nhập khẩu màu vàng ươm, trông rất bắt mắt. Cũng tùy quan điểm mà có thể cho rằng chuối này bổ dưỡng hơn hay chuối kia ngon hơn… nhưng dù sao cũng chưa có nghiên cứu khoa học nào cụ thể để chứng minh cho các quan điểm này. Các mẹ hãy cứ chọn loại chuối mà mình và gia đình vẫn thường chuộng ăn nhất để làm cho bé.

Nhưng lưu ý chung là cần chọn chuối đã chín vừa đều, ngọt, không còn vị chát. Vỏ chuối còn màu xanh nghĩa là chưa chín hẳn, trong khi vỏ đã xuất hiện những đốm nâu có nghĩa là nó quá chín, có thể đã bị hỏng, nhũn. Một quả chuối trộn với khoảng 30ml sữa bột hoặc sữa mẹ sẽ cho hỗn hợp sệt vừa đủ.

Bước 2: Rửa chuối để loại bỏ vi khuẩn

Nhiều người thường nghĩ chuối có lớp vỏ dày, kín nên sẽ không ảnh hưởng đến phần ruột nếu không rửa. Tuy nhiên, quá trình chế biến cho con, nếu không cẩn thận, có thể món ăn của bé sẽ bị nhiễm khuẩn. Bạn chỉ cần pha hỗn hợp ba phần nước một phần dấm trắng để ngâm rửa chuối, cách này giúp loại bỏ vi khuẩn rất tốt. Sau đó rửa lại chuối dưới vòi nước lạnh, để ráo. Khi cần làm món ăn cho bé, chỉ cần lột bỏ vỏ rồi cắt chuối thành từng miếng nhỏ.

Bước 3: Nghiền mịn

Bạn có thể nghiền chuối qua rây hoặc dùng máy xay, xay đến khi chuối mịn. Chuối khi được xay sẽ chuyển màu tím hay nâu nhạt là bình thường, bạn đừng nên lo lắng. Thêm nước nếu thấy cần để đạt được hỗn hợp lỏng đặc như mong muốn. Tốt nhất, bạn nên cho thêm sữa mẹ, sữa công thức mà bé đang uống thay vì nước lọc.

Trẻ từ 10 tháng tuổi trở lên, bạn có thể cho hỗn hợp này đặc lại hoặc chỉ dầm chuối chứ không phải xay nữa để tập bé cách nuốt thức ăn thô.

Vài gợi ý để pha trộn tạo hương vị khác với chuối nghiền

Chuối nghiền bản thân nó đã rất ngon, ngọt nhưng sẽ càng hấp dẫn hơn nhiều khi bạn trộn hỗn hỗn hợp này với các loại trái cây hoặc các loại thực phẩm lành tính dành cho bé. Hãy thử trộn chuối đã được xay nhuyễn với: thanh long, lê, xoài, dâu, đu đủ, táo, bột yến mạch, sữa chua…

Với bơ: Lấy 1 quả bơ chín, 3 quả chuối, xay nhuyễn mịn cùng nhau, thêm sữa bé đang dùng để có được hỗn hợp mịn mượt nhất.

Với lê (rất tốt cho trẻ trên 6 tháng tuổi): Gọt vỏ 1 quả lê, bỏ lõi ở giữa, cắt miếng nhỏ. Cho lê vào nồi cùng lượng nước vửa đủ nấu chín mềm (trong khoảng 15 phút). Khi lê đã nấu xong, bạn lấy ra cho nguội bớt. Lấy 1 quả chuối đã được rửa sạch, bóc bỏ vỏ, cắt lát. Cho lê và chuối vào máy xay hoặc rây để nghiền nhuyễn. Thêm sữa hoặc nước lọc để có hỗn hợp mong muốn.

Cũng có thể thêm bột yến mạch vào hỗn hợp này trước khi cho bé ăn để có một món mới với khẩu vị khác.

Thường nghiền 1 quả chuối, 1 quả bơ thì hỗn hợp thu được đã quá nhiều cho 1  lần ăn của bé, vì vậy, bạn có thể cho hỗn hợp còn dư vào lọ đã tiệt trùng và trữ ở ngăn đông. Khi cần cho bé ăn, chỉ cần rã đông qua đêm ở ngăn mát tủ lạnh. Cách này cũng rất tiện lợi cho những mẹ bận rộn. Bạn có thể làm cùng lúc nhiều hương vị, cho vào lọ, dán nhãn và trữ đông cho bé ăn dần.

Lưu ý: Nếu bé có những dấu hiệu của dị ứng thực phẩm khi thử một món ăn mới, bạn cần đưa bé đi bác sĩ để được thăm khám và có hướng dẫn cụ thể.

Nguồn: Webtretho (lược dịch) / Theo Parents

Chuối nghiền ngon, bổ cho bé biếng ăn

chuoi nghien cho be bieng an
Chuối là một loại trái cây giàu vitamin và khoáng chất, là một nguồn năng lượng tự nhiên rất tốt cho cơ thể cần nhiều sự vận động. Khi làm nhuyễn nó có dạng mềm mượt như kem, rất dễ kết hợp cùng các loại trái cây khác và nếu pha trộn với sữa chua, sẽ cho bé một hương vị tuyệt vời. Các bước hướng dẫn sau sẽ giúp bạn dễ dàng chế biến bữa ăn đầu tiên lý tưởng cho bé từ quả chuối.


Bước 1: Chọn chuối

Cũng nhhư bơ, chuối có một kết cấu mềm mượt, trơn tru vì thế trẻ sơ sinh rất dễ ngậm và nuốt. Nó cũng là một trái cây lý tưởng đầu tiên sau khi em bé đã thử qua một vài loại rau củ nghiền nhuyễn hoặc bột ngũ cốc. Ở Mỹ và nhiều nước khác, chuối được xem lại một loại trái cây giàu dưỡng chất, rất được ưa chuộng trong thực đơn ăn uống hàng ngày. Ở nước ta, chuối được trồng tự nhiên phổ biến trên cả nước, giá thành rẻ so với nhiều loại trái cây khác. Và cũng có nhiều loại chuối khác nhau như chuối sim đen, chuối sứ (chuối mốc), chuối cau, chuối già, chuối già Đà Lạt… Gần đây còn có một số loại chuối nhập khẩu màu vàng ươm, trông rất bắt mắt. Cũng tùy quan điểm mà có thể cho rằng chuối này bổ dưỡng hơn hay chuối kia ngon hơn… nhưng dù sao cũng chưa có nghiên cứu khoa học nào cụ thể để chứng minh cho các quan điểm này. Các mẹ hãy cứ chọn loại chuối mà mình và gia đình vẫn thường chuộng ăn nhất để làm cho bé.

Nhưng lưu ý chung là cần chọn chuối đã chín vừa đều, ngọt, không còn vị chát. Vỏ chuối còn màu xanh nghĩa là chưa chín hẳn, trong khi vỏ đã xuất hiện những đốm nâu có nghĩa là nó quá chín, có thể đã bị hỏng, nhũn. Một quả chuối trộn với khoảng 30ml sữa bột hoặc sữa mẹ sẽ cho hỗn hợp sệt vừa đủ.

Bước 2: Rửa chuối để loại bỏ vi khuẩn

Nhiều người thường nghĩ chuối có lớp vỏ dày, kín nên sẽ không ảnh hưởng đến phần ruột nếu không rửa. Tuy nhiên, quá trình chế biến cho con, nếu không cẩn thận, có thể món ăn của bé sẽ bị nhiễm khuẩn. Bạn chỉ cần pha hỗn hợp ba phần nước một phần dấm trắng để ngâm rửa chuối, cách này giúp loại bỏ vi khuẩn rất tốt. Sau đó rửa lại chuối dưới vòi nước lạnh, để ráo. Khi cần làm món ăn cho bé, chỉ cần lột bỏ vỏ rồi cắt chuối thành từng miếng nhỏ.

Bước 3: Nghiền mịn

Bạn có thể nghiền chuối qua rây hoặc dùng máy xay, xay đến khi chuối mịn. Chuối khi được xay sẽ chuyển màu tím hay nâu nhạt là bình thường, bạn đừng nên lo lắng. Thêm nước nếu thấy cần để đạt được hỗn hợp lỏng đặc như mong muốn. Tốt nhất, bạn nên cho thêm sữa mẹ, sữa công thức mà bé đang uống thay vì nước lọc.

Trẻ từ 10 tháng tuổi trở lên, bạn có thể cho hỗn hợp này đặc lại hoặc chỉ dầm chuối chứ không phải xay nữa để tập bé cách nuốt thức ăn thô.

Vài gợi ý để pha trộn tạo hương vị khác với chuối nghiền

Chuối nghiền bản thân nó đã rất ngon, ngọt nhưng sẽ càng hấp dẫn hơn nhiều khi bạn trộn hỗn hỗn hợp này với các loại trái cây hoặc các loại thực phẩm lành tính dành cho bé. Hãy thử trộn chuối đã được xay nhuyễn với: thanh long, lê, xoài, dâu, đu đủ, táo, bột yến mạch, sữa chua…

Với bơ: Lấy 1 quả bơ chín, 3 quả chuối, xay nhuyễn mịn cùng nhau, thêm sữa bé đang dùng để có được hỗn hợp mịn mượt nhất.

Với lê (rất tốt cho trẻ trên 6 tháng tuổi): Gọt vỏ 1 quả lê, bỏ lõi ở giữa, cắt miếng nhỏ. Cho lê vào nồi cùng lượng nước vửa đủ nấu chín mềm (trong khoảng 15 phút). Khi lê đã nấu xong, bạn lấy ra cho nguội bớt. Lấy 1 quả chuối đã được rửa sạch, bóc bỏ vỏ, cắt lát. Cho lê và chuối vào máy xay hoặc rây để nghiền nhuyễn. Thêm sữa hoặc nước lọc để có hỗn hợp mong muốn.

Cũng có thể thêm bột yến mạch vào hỗn hợp này trước khi cho bé ăn để có một món mới với khẩu vị khác.

Thường nghiền 1 quả chuối, 1 quả bơ thì hỗn hợp thu được đã quá nhiều cho 1  lần ăn của bé, vì vậy, bạn có thể cho hỗn hợp còn dư vào lọ đã tiệt trùng và trữ ở ngăn đông. Khi cần cho bé ăn, chỉ cần rã đông qua đêm ở ngăn mát tủ lạnh. Cách này cũng rất tiện lợi cho những mẹ bận rộn. Bạn có thể làm cùng lúc nhiều hương vị, cho vào lọ, dán nhãn và trữ đông cho bé ăn dần.

Lưu ý: Nếu bé có những dấu hiệu của dị ứng thực phẩm khi thử một món ăn mới, bạn cần đưa bé đi bác sĩ để được thăm khám và có hướng dẫn cụ thể.

Nguồn: Webtretho (lược dịch) / Theo Parents
Đọc thêm..